SÀI GÒN · Thứ Năm, ngày 5 tháng 11 năm 2026
Đọc báo giùm bạn — mỗi ngày 10 phút, nắm hết chuyện đáng biết
Đọc báo giùm bạn — tổng hợp, diễn giải và ghi chép lại
Trang chủ›Tri thức để dành

Đờn ca tài tử: tiếng đàn chơi cho vui mà thành di sản thế giới

Cuối thế kỷ mười chín, vài người bạn miền Nam ngồi lại sau ngày làm đồng, lấy đàn gảy cho vui — thú chơi ấy hơn trăm năm sau thành di sản nhân loại.

Thứ Năm, 05/11/2026 · Sài Gòn Điểm Tin
Ban nhạc đờn ca tài tử Sài Gòn năm 1911.
Ban nhạc đờn ca tài tử Sài Gòn năm 1911. Ảnh: Wikimedia Commons (phạm vi công cộng).

Buổi tối ở một vùng quê miền Nam, sau ngày làm đồng, vài người bạn ngồi lại quanh bộ ván, mỗi người ôm một cây đàn. Không sân khấu, không vé vào cửa, không ai trả công. Đàn lên, người này ca một câu, người kia đệm một đoạn, tiếng đàn tiếng ca cứ vậy mà đi tới khuya. Cái thú chơi cho vui ấy, người ta gọi là đờn ca tài tử. Hơn một trăm năm sau, cái thú chơi ấy được UNESCO ghi vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Người chơi cho vui, không lấy đàn làm nghề

Chữ “tài tử” nói lên hết cái hồn của loại nhạc này. Tài tử là người có tài mà chơi cho vui, không lấy đàn ca làm nghề kiếm sống. Ban ngày họ là nông dân, thợ thuyền, thầy giáo, người buôn bán; tối về, họ mới là người của cây đàn. Đờn ca tài tử ra đời ở miền Nam vào cuối thế kỷ mười chín, gạn từ nhạc lễ và nhã nhạc cung đình Huế, pha với hò vè và dân ca của vùng sông nước. Không có nhạc viện nào dạy nó thuở đầu, chỉ có thầy truyền cho trò bằng miệng, bằng tay, ngồi kề bên nhau mà nghe, mà bắt chước. Muốn thông thạo, người học phải theo thầy hai ba năm trời.

Bốn cây đàn và hai mươi bài bản tổ

Dàn nhạc tài tử thuở đầu chỉ có vài món: đàn kìm giữ nhịp và giữ giọng, đàn tranh rải tiếng trong, đàn tỳ bà, đàn cò kéo giọng buồn, thêm đàn bầu, ống tiêu và song loan gõ nhịp. Về sau, guitar phím lõm và vĩ cầm cũng nhập vào dàn, mà tiếng đàn vẫn không mất chất Nam Bộ. Kho bài bản của nó lên tới vài trăm bản, nhưng giới nhà nghề gút lại hai mươi bản tiêu biểu, gọi là hai mươi bài bản tổ: sáu bản hơi Bắc, bảy bản hơi Hạ, ba bản hơi Nam, bốn bản hơi Oán. Mỗi hơi là một sắc giọng: Bắc vui tươi, Nam trầm buồn, Oán ai oán, Hạ khoan thai. Thuộc được hai mươi bản ấy mới chỉ là biết đường vào; còn chơi cho hay, phải biết ứng biến, thêm thắt theo lòng mình, theo người ca bên cạnh.

Một đêm rằm ở Bạc Liêu

Trong kho bài bản ấy, có một bản nổi tiếng nhứt: Dạ cổ hoài lang. Đêm Rằm tháng Tám năm 1919, theo lời kể quen thuộc ở Bạc Liêu, nhạc sĩ Cao Văn Lầu ngồi nghe tiếng trống chùa trong đêm mà viết nên mười hai câu nhịp đôi, kể nỗi lòng người vợ chờ chồng. Bản nhạc ấy sau được mở ra nhịp bốn, nhịp tám, rồi mười sáu, ba mươi hai, tới sáu mươi bốn, thành bài vọng cổ — cột trụ của sân khấu cải lương cho tới nay. Từ một đêm nghe trống ở làng Vĩnh Hương, một làn điệu đi khắp miền Nam, rồi đi khắp nước. Bạc Liêu vì vậy được coi là cái nôi của đờn ca tài tử, và năm 2008, tỉnh dựng Khu lưu niệm nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu ngay trên đất cũ của gia đình ông.

Khi tiếng đàn quê được cả thế giới nghe

Ngày 5 tháng 12 năm 2013, tại Baku, thủ đô của Azerbaijan, UNESCO ghi danh nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại — di sản thứ tám của Việt Nam được ghi danh. Tháng 1 năm 2014, liên hoan đờn ca tài tử lần đầu được mở ở Bạc Liêu. Từ đó, tiếng đàn không chỉ còn trong nhà, trong đình, mà lên sân khấu lớn, vào trường học, ra nước ngoài. Ấy vậy mà, cái cốt của nó vẫn là buổi ngồi lại với nhau sau ngày làm việc.

Cái hay nhứt của đờn ca tài tử nằm ở chỗ nó không bắt đầu từ một nhà hát hay một chiếu chỉ, mà từ bàn tay của những người làm lụng cả ngày, tối về còn muốn đàn cho nhau nghe. Một thứ nhạc sinh ra để vui, để sẻ chia, để nhớ quê — mà giữ được lâu như vậy, ấy là vì người ta còn ngồi lại với nhau. Chừng nào còn có người ôm đàn ngồi xuống sau một ngày dài, chừng ấy tiếng đờn ca còn ở lại với xứ mình.

■ ■ ■

Nguồn đối chiếu: UNESCO ghi danh nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ ngày 5/12/2013 tại Baku, Azerbaijan, di sản thứ tám của Việt Nam; ra đời cuối thế kỷ mười chín từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và dân ca Nam Bộ, có mặt ở 21 tỉnh thành miền Nam; hai mươi bài bản tổ (sáu Bắc, bảy Hạ, ba Nam, bốn Oán) theo Viện Âm nhạc; nhạc cụ đàn kìm, đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn cò, đàn bầu, ống tiêu, song loan, về sau thêm guitar phím lõm và vĩ cầm; học với thầy hai ba năm mới thông thạo; bản Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu ra đời đêm Rằm tháng Tám năm 1919 tại làng Vĩnh Hương, Bạc Liêu, mười hai câu nhịp đôi mở ra nhịp bốn, tám, mười sáu, ba mươi hai, sáu mươi bốn thành vọng cổ; liên hoan đờn ca tài tử lần đầu tháng 1/2014 ở Bạc Liêu; Khu lưu niệm nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu dựng năm 2008.

Bài viết của trang. Nếu có chi tiết chưa đúng, xin góp ý ở mục ý kiến bạn đọc để trang sửa lại cho đúng.

Về mục Tri thức để dành ← Trang chủ