SÀI GÒN · Thứ Tư, ngày 4 tháng 11 năm 2026
Đọc báo giùm bạn — mỗi ngày 10 phút, nắm hết chuyện đáng biết
Đọc báo giùm bạn — tổng hợp, diễn giải và ghi chép lại
Trang chủ›Tri thức để dành

Nón lá: từ vật che mưa nắng thành biểu tượng của xứ mình

Từ lá cọ, nan tre và bàn tay người thợ, chiếc nón lá đã đi từ đồng ruộng vào thơ ca, thành hình ảnh quen thuộc nhứt của xứ mình.

Thứ Tư, 04/11/2026 · Sài Gòn Điểm Tin
Người phụ nữ đội nón lá bên bờ sông.
Người phụ nữ đội nón lá bên bờ sông. Ảnh: Tine Steiss / Wikimedia Commons (CC BY-SA 2.0).

Giữa trưa nắng gắt ngoài đồng, hay cơn mưa rào bất chợt trên đường làng, người Việt xưa chỉ cần một vật là đủ: chiếc nón lá đội trên đầu. Nhẹ, rẻ, làm bằng lá cây và nan tre, vậy mà nó che được cả nắng lẫn mưa, quạt được mát khi nghỉ tay, đựng được mớ rau khi đi chợ, và có khi còn múc được gàu nước bên giếng. Một vật dụng nghèo như vậy, mà đi đâu người ta cũng nhận ra xứ mình qua nó, ấy mới là điều đáng ngẫm.

Một hình bóng có từ mấy ngàn năm

Nón lá không phải vật mới. Trên trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịnh, có niên đại chừng hai ngàn năm trăm tới ba ngàn năm trước, người ta đã thấy khắc hình người đội vật che đầu dạng chóp nón. Tới đời Trần, thế kỷ mười ba, nón lá hiện rõ hơn trong đời sống, gắn với ruộng lúa nước và những ngày làm đồng dài dưới trời nắng. Truyền thuyết dân gian còn kể về một bà tiên từ trời xuống, đội chiếc nón kết bằng bốn lá tròn lớn, đi tới đâu thì mưa bão tan tới đó, rồi dạy dân trồng lúa. Chuyện ấy là truyền thuyết, không ai coi là sử thật, nhưng nó nói đúng một điều: chiếc nón ra đời từ ruộng đồng, và từ đầu đã gắn với người làm ruộng.

Lá, tre và bàn tay người thợ

Làm một chiếc nón lá nghe qua thì đơn giản, làm cho khéo mới khó. Lá dùng làm nón thường là lá cọ, có vùng dùng lá buông, lá dừa. Lá phải còn non vừa, phơi cho trắng, rồi là cho phẳng, cắt cho đều. Khung nón là những nan tre vót mỏng, uốn thành vành tròn nhiều cỡ, xếp lên khuôn hình chóp. Người thợ xếp vài chục lá lên khuôn, rồi chằm từng mũi kim cho lá ôm sát khung, sau cùng quét một lớp dầu bóng để nón chịu được mưa và giữ được dáng. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng ví mỗi vành nón như một vầng trăng, ấy là vì nhìn chiếc nón từ trên xuống, vành nọ ôm vành kia, tròn và đều như trăng rằm. Một chiếc nón làm khéo là thứ đội đầu nhẹ nhứt, mỏng mà bền, đội lên đầu không nặng cổ, đi mưa không ướt tóc.

Mỗi vùng một dáng nón

Nón lá không chỉ có một kiểu. Ở miền Bắc, làng Chuông thuộc huyện Thanh Oai, Hà Nội, nổi tiếng với nón chóp nhọn bền và đẹp. Ở Bình Định có nón ngựa Gò Găng, nón của người cưỡi ngựa ngày xưa, làm bằng lá lụi chắc và cứng. Xuôi vào miền Trung, xứ Huế có nhiều làng nón như Phủ Cam, Dạ Lê, Đồng Di, và nổi tiếng nhứt là nón bài thơ. Nón bài thơ mỏng và thanh, làm bằng hai lớp lá, giữa hai lớp ấy người thợ lồng khéo một hình phong cảnh hay vài câu thơ. Lúc đội bình thường thì không thấy gì, chỉ khi soi lên nắng, hình và thơ mới hiện ra mờ mờ sau lớp lá. Cái đẹp giấu kín như vậy, phải là người xứ Huế chuộng thơ mới nghĩ ra.

Khi chiếc nón thành một phần của người đội

Ngày nay, ngoài đồng vẫn còn người đội nón lá, nhưng trong phố thì nón lá đã ít dần, nhường chỗ cho nón vải, mũ nhựa, áo mưa tiện lợi. Ấy vậy mà, mỗi khi nhắc tới hình ảnh người phụ nữ Việt, người ta vẫn nhắc tới tà áo dài và chiếc nón lá đi cùng nhau. Trong điệu múa dân gian, chiếc nón cũng thành đạo cụ, xoay tròn, hất lên, úp xuống theo nhịp nhạc. Khách phương xa tới xứ mình, nhiều người mua một chiếc nón lá về làm quà, không phải vì cần che nắng, mà vì muốn giữ một hình ảnh của xứ này. Một vật dụng mà người ta mua về chỉ để ngắm, ấy là nó đã vượt qua công dụng ban đầu của nó rồi.

Cái hay nhứt của chiếc nón lá nằm ở chỗ nó không khoe khoang. Nó làm bằng thứ rẻ nhứt trong vườn nhà, qua bàn tay thợ khéo mà thành vật đẹp, rồi sống cùng người ta đủ lâu để thành một phần của người ta. Giữ được một chiếc nón như vậy, kỳ thực là giữ được một nếp sống: làm ít mà đủ dùng, đẹp mà không phô, bền vì được làm kỹ từng mũi kim. Trong một thời mọi thứ đều làm nhanh và thay nhanh, chiếc nón lá nhắc ta một điều giản dị: cái gì làm bằng tay nghề và lòng kiên nhẫn, cái ấy mới ở lại lâu với đời người.

■ ■ ■

Nguồn đối chiếu: hình chóp nón khắc trên trống đồng Ngọc Lũ và thạp đồng Đào Thịnh, niên đại chừng 2.500–3.000 năm trước; nón lá hiện rõ trong đời sống từ đời Trần, thế kỷ mười ba; truyền thuyết bà tiên đội nón bốn lá dạy dân trồng lúa; nguyên liệu lá cọ, lá buông, lá dừa, khung nan tre, chằm kim và quét dầu bóng; các làng nón Chuông (Thanh Oai, Hà Nội), Phủ Cam, Dạ Lê, Đồng Di (Huế), nón ngựa Gò Găng (Bình Định); nón bài thơ Huế hai lớp lá lồng hình và thơ, soi nắng mới thấy.

Bài viết của trang. Nếu có chi tiết chưa đúng, xin góp ý ở mục ý kiến bạn đọc để trang sửa lại cho đúng.

Về mục Tri thức để dành ← Trang chủ